Vùng cát Quảng Nam: Tiến thoái lưỡng nan
Thứ bảy, 20 Tháng 3 2010 21:08
In
Email
Cây điều ghép từng được xem như “cứu tinh” giờ bị nông dân vùng cát Tam Kỳ phá bỏ. Ảnh: T.T.T
(LĐCT) - Mỗi lần đi trên cát trắng mênh mông trải suốt dọc dài ven biển Quảng Nam, tôi thường không khỏi nhớ đến câu thơ trong bài “Trường Sa hành” mà Cao Bá Quát viết ở vùng cát miền Trung: “Cát dài, bãi cát dài / Mỗi bước một thụt lùi...”.

Hình ảnh thơ tả thực về quy luật mỗi bước chân người đi tới trên miền đất cát đều bị cát trượt lui lại một ít, nhưng mang đầy tính biểu tượng, nghe rất cám cảnh. Tình thế của nông dân vùng cát Quảng Nam, và có lẽ đối với nhiều vùng cát khắp ven biển miền Trung cũng vậy...

Loay hoay tìm lối thoát nghèo

Vùng đông Quảng Nam chỉ toàn cồn cát trắng phau, diện tích hơn 35.000ha thuộc các huyện Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn, Duy Xuyên, Hội An, Điện Bàn. Ông Nguyễn Thanh Quang - GĐ Sở NNPTNT - nhận xét: “Hàng vạn gia đình nông dân vùng cát tuy giờ đã thoát cảnh “tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ (khoai) đi làm”, nhưng vẫn chưa thể hết nghèo, phát triển làm giàu bền vững. Một lý do khách quan là vùng cát, nếu so sánh lợi thế với miền núi, ngoài điều kiện giao thông thuận lợi thì tiềm lực, tiềm năng đều thua kém”.

Sau ngày giải phóng, cây lúa được Nhà nước chú trọng đầu tư SX, nên vùng cát đã ổn định an ninh lương thực, song do đất cát nghèo dinh dưỡng, nên không thể thâm canh lúa làm giàu. Còn lại các loại cây trồng cạn (đậu, rau, cây có củ các loại) thì vẫn phụ thuộc nước trời và nguồn nước nhỉ trong lòng cát, thường bị ngập úng vào mùa mưa do không có hệ thống tiêu thoát lũ lại bị dãy cồn cát dọc biển ngăn nước lại, nên SX bấp bênh.

Bài toán “trồng cây gì nuôi con gì” để giúp nông dân vùng cát thoát nghèo vẫn lưu cữu. Nghề nuôi tôm sú nước lợ mươi năm trước bùng phát, người dân vùng cát phá cả rừng dương liễu phòng hộ ven biển, khoét luôn đê ngăn mặn, lấn sông Trường Giang để nuôi tôm. Kết quả một số hộ giàu lên, rồi sau đó hàng ngàn hộ dân lâm cảnh nợ nần chồng chất. Nhiều xã vùng cát Núi Thành gần như dân cả xã trở thành con nợ bởi đổ xô làm tôm.

Ngành NN cũng kỳ vọng vào cây điều ghép cao sản vực dậy vùng cát vốn đã rất nhiều điều giống gốc bản địa, nhưng rồi “huyện thí điểm” Thăng Bình với cả ngàn hécta điều dần dà bị dân phá bỏ vì điều rớt giá thê thảm. Không mấy người dân đủ bạc tỉ đóng tàu lớn xa bờ, trong khi chương trình nhà nước đầu tư tàu xa bờ giao dân làm chủ đã không đem lại hiệu quả nếu không muốn nói là phá sản do cung cách triển khai lòng vòng, tiêu cực.

Kịp đến thời kỳ thu hút, ưu đãi đầu tư, tỉnh quy hoạch gần như toàn bộ vùng cát dành cho các DA lớn “công nghiệp sạch, công nghệ cao, du lịch sinh thái”. Kèm theo đó là các đề án đầu tư hạ tầng kĩ thuật, dân sinh cũng rất to lớn, tất nhiên không khỏi di dời, sắp xếp lại dân cư vùng cát theo quy mô lớn.

Theo ông Quang, các quy hoạch, định hướng phát triển SX NN vùng cát vì vậy buộc phải mang tính ngắn hạn, thời vụ. Về lâu dài khi các DA lớn hoạt động, nếu không có các bước chuẩn bị và thực hiện bài bản, thực chất, thì công cuộc sắp xếp dân cư, di dời tái định cư, tạo đất sản xuất và đào tạo nghề cho dân vùng cát cũng có nguy cơ đi theo “vết xe đổ”.

Trong khi chờ đợi

Hiện tại, ngoài vùng đông nam TP Hội An theo kịp ý tưởng các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô địa phương, hầu như toàn bộ nông dân vùng cát đang bị “treo” vào bức tranh “sạch, cao, sinh thái” chưa thành hình. Họ buộc lòng vẫn phải tính kế sinh nhai trong khi chờ đợi. Vùng đông Thăng Bình tự phát hình thành vùng chăn nuôi heo nái SX heo sữa, trở thành đầu mối cung cấp lớn cho thị trường trong nam ngoài bắc. 90% số hộ dân vùng cát Thăng Bình tham gia ngành “SX hàng hoá” này, đảm bảo được đời sống gia đình. Đáng tiếc, đại nạn dịch heo tai xanh hồi 2007 đã quật ngã họ, đến năm 2008-2009 lại 2 trận dịch nữa nhưng nhờ kịp thời khống chế nên thiệt hại không lớn, nếu không hàng ngàn hộ dân nơi đây đã có thể đổi đời.

Ông Nguyễn Hương - Trưởng Phòng NNPTNT huyện - cho rằng thực tế với “nền nghèo” vùng cát thì việc đầu tư đánh bắt xa bờ là bất khả thi, chỉ có việc đánh bắt gần bờ mới đang nuôi sống các gia đình gần biển, nhưng đó cũng khó thành kế lâu dài do ngư trường cạn kiệt; đồng thời việc đầu tư chế biến tại chỗ nhằm nâng cao giá trị thuỷ hải sản sẽ có nhiều ích lợi, do phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát đang đem lại hiệu quả cao, thay thế cho con tôm sú.

Ông GĐ Sở NNPTNT nói: “Trước mắt, định hướng phát triển SX ở vùng cát có thể chia làm 2 giai đoạn. Ngắn hạn trong 5 năm đến là hỗ trợ nông dân đẩy mạnh khai thác, phát triển các loại cây con mang lại hiệu quả kinh tế cao vốn do chính nông dân tự phát hình thành trên thực tế, manh nha là SX hàng hoá. Đó là chăn nuôi heo nái đẻ cung cấp lợn sữa, nuôi vịt đàn, nuôi tôm trên cát và các loại thuỷ hải sản, trồng các loại cây trồng cạn như đậu phộng, mè, rau gia vị...

Về dài hạn, khi vùng công nghiệp, du lịch quy mô lớn hình thành, thì song song với việc đào tạo nghề cho lớp trẻ, vẫn nhất thiết phải quy hoạch dành chỗ cho chiến lược SX NN theo các loại cây, con chủ lực này để khai thác lợi thế vùng, tạo việc làm cho nông dân trung niên. Không chỉ vậy, mà còn phải quy hoạch, phát triển SX theo hướng hàng hoá, đảm bảo nông dân SX NN vẫn có thể làm giàu”.
 
Ông Quang nói chắc nịch: “Dù có sạch, cao, sinh thái gì nữa thì quy luật muôn đời là nông dân thì cần đất, cần SX NN, tất nhiên là công nghiệp hoá NN. Nhưng Nhà nước, các dự án kinh tế vào đây đều phải đầu tư hỗ trợ mạnh hơn. Cứ lấy kinh nghiệm phát triển SX lúa ở đồng bằng sẽ thấy: Nếu tập trung cho các loại cây, con chủ lực ở vùng cát như đã từng tập trung cho cây lúa, thì nông dân vùng cát mới mong thoát nghèo, làm giàu bền vững”.

Nguồn Laodong.com.vn Baoonline.vn
Chia sẽ bài viết qua:
v
f
t
g
y
Các tin khác